Cung cấp day chuyền sản xuất lò vôi công nghiệp kiểu đứng công suất 100-250 tấn/ ngày

tháng 12 27, 2017 |
Cung cấp dây chuyền sản xuất lò nung vôi công nghiệp kiểu đứng công suất 100-250 tấn/ ngày

Nguyên Lý hoạt động: chia làm 3 vùng nung
 - Vùng tiền nung: nhiệt độ 30-800oC
 - Vung Nung:nhiệt độ 850 -1200oC
 - Vùng sau nung: 1000- 60oC

Giải pháp giảm thiểu sự tiêu hao năng lượng hàng đầu
Trong dự án này, ở phái đáy sử dụng quạt đẩy nhiệt làm mát lên vùng nung lên vùng sấy, nó có thể lợi dụng đầy đủ khói nhiệt độ cao mà từ lò đáy lò đứng đi lên để làm nóng trước vật liệu, sẽ sấy một phần vật liệu , nâng cao sản lượng hệ thống 40%, năng lượng nhiệt nâng cao 30%. Trong hệ thống lọc bụi sử dụng máy lọc bụi kiểu túi, sẽ tiết kiệm điện với mức độ lớn. Vật liệu chịu lửa trong lò quay áp dụng gạch chịu lửa phức hợp, có thể giảm nhiệt độ thấp 400C, có thể giảm tiêu hao năng lượng với mức độ lớn.
Giữa lò đứng và gạch chịu lựa có lớp cách nhiệt, có thể giảm nhiệt độ 600C nữa, vậy thì có thể đạt trinh độ thấp nhất cùng ngành trong nước về sự tiêu hao năng lượng.


Nguyên lý hoạt động của dây chuyền sản xuất vôi công nghiệp Tân Phú

1. Vận tải và dự trữ nguyên liệu
Đá vôi với kích thước 20-40mm được vận chuyển về đến nhà máy, để trên bãi nguyên liệu. Sau khi qua rửa bằng nước rồi vận chuyền đến băng tải cao su với độ nghiêng lớn B1000 qua máy cấp liệu rung từ điện, sau đó cho lên Silo chuẩn bị tháo liệu tháo liệu, đá vôi với kích thước trên 10mm qua sàng phân loại sẽ đi vào két chứa đá vôi đã nghiền, đá vôi với kích thước dưới 10 mm sẽ được vận chuyền đến két chứa vật liệu bột, đá vôi đã đạt tiêu chuẩn sẽ được vận chuyền đến két chứa vật liệu của máy hòm nóng bằng băng tải cao su với độ nghiêng lớn B800.

2. Nung đốt đá vôi
Hệ thống nung đốt đá vôi cấu thành bằng lò đứng đường kinh từ 4-6m. Vật liệu sẽ được đưa lên đỉnh lò nung băng hệ thống cấp liệu, đồng thời cho nóng vật liệu bằng khói nhiệt độ cao mà từ phía đáy lò đứng đi lên đến 600-800oC, để phân giải một phần đá vôi, rồi đẩy vào vùng nung khi nhiệt độ đạt kỹ thuật. Qua gió lạnh mà máy quạt gió mang vào để giảm nhiệt độ cao xuống đến nhiệt độ thường dưới 650oC .

3. Vận tải sản phẩm
Vôi thành phẩm được xả theo chu kỳ qua băng tải cao su xích chở đến máy gầu tải NE500 rồi đưa vào phía đỉnh si lô vôi. Sau qua sàng phân loại, vôi đủ tiêu chuẩn với kích thước 5mm trở lên sẽ được chở đến tận si lô vôi hoạt tính qua băng tải cao su, vôi với kích thước 5mm trở xuống thì sẽ đưa vào si lô bột, si lô vôi hoạt tính và si lô bột đều có van dỡ liệu điện động.

4. Xử lý khói khí thải trên toàn bộ dây chuyền 
Khói khí thải nhiệt độ cao mà lò đứng nung đốt đi ra, sau khi trao đổi nhiệt với đá vôi trong lò đứng, nhiệt độ sẽ giảm đến 280oC trở xuống, qua máy làm lạnh đa ống, khói khí thải sẽ được giảm đến dưới 2000C, đi vào máy lọc bụi túi. Sau khi lọc bụi sẽ thoát vào không khí, hàm lượng bụi trong khói khí thải <50mg/m3.
Video lò đốt vôi công nghiệp
Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch ( đầu đùn gạch) công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
9. Dây chuyền sản xuất lò nung vôi công nghiệp kiểu lò đứng và kiểu lò ngang
https://sites.google.com/view/lovoicongnghieptanphu/trang-ch%E1%BB%A7

Read more…

Robot dỡ xếp carton từ container xếp lên pallet : C2

tháng 12 01, 2017 |
Robot dỡ xếp carton từ container xếp lên pallet C2: 

Các hộp và túi xếp chồng lên nhau được dỡ xuống từ các thùng chứa ở tốc độ cao, bởi C2. Các sản phẩm được đặt trên một băng chuyền cung cấp thức ăn cho một băng tải kính thiên văn.

Hệ thống có thể được kết nối trực tiếp với các hệ thống hậu cần hiện có.

C2 có dung lượng lên đến 3.000 hộp / giờ, tùy thuộc vào kích thước của hộp.

Hoạt động

Nhà điều hành có thể kiểm soát máy từ cabin thoải mái của mình. Các điều khiển của tay lái được thiết kế để người vận hành có thể thực hiện tất cả các hoạt động cần thiết với cần điều khiển, được hỗ trợ bởi một hệ thống điều khiển tiên tiến PLC. C2 được đưa vào thùng chứa từ trạm lắp. Các băng tải sau tự động sửa chữa cho sự khác biệt chiều cao. Công nghệ nâng nâng cao đảm bảo rằng mỗi lần có thể nâng lên tới 100 kg công suất.

An toàn

Máy được trang bị các cảm biến laser khác nhau để sửa lỗi của con người. Máy ảnh cho phép toàn bộ quá trình được nhìn thấy trong nháy mắt. Hệ thống được trang bị tiêu chuẩn với đường truyền ngang để nó có thể được điều khiển từ dock đến dock.

Tự động hóa

Phần mềm đặc biệt đã được phát triển cho C2 Container unloader. Các hoạt động lặp đi lặp lại đã được tự động hóa rộng rãi. Hệ thống này điều chỉnh chênh lệch chiều cao giữa thùng chứa và sàn giao nhận bằng cách nâng khung của hệ thống C2. Máy liên tục đo khoảng cách trong không gian có sẵn, ngăn ngừa thiệt hại. Người điều khiển có thể điều khiển hệ thống bằng hai cần điều khiển khi ngồi trên ghế ngồi thoải mái. Anh ta có thể giám sát toàn bộ quá trình trên màn hình.

Các ứng dụng

Copal C2 có thể được sử dụng trong tất cả các trung tâm hậu cần, nơi chứa các thùng chứa tiêu chuẩn và cao (20, 40 hoặc 45 ft) được dỡ xuống. Máy có thể được kết nối trực tiếp với hệ thống hậu cần nội bộ . Ví dụ như ở kho lạnh, kho hàng và trung tâm phân phối. Dĩ nhiên cũng có thể thực hiện phân loại bằng tay và pallet hóa.

Máy tiết kiệm thời gian và làm giảm sức lao động xuống mức không.

Tùy chọn

-Bếp kín và nóng lạnh dùng trong kho lạnh
-Buồng làm lạnh và khoang làm mát để thoải mái hơn
-Cabin áp suất cho không khí sạch
-Đầu đọc mã vạch
-Chức năng ghi nhãn
-Chức năng cân
-Kết nối với WMS hiện có
-Kéo & Spidergripper
-Găng tay tùy chỉnh cho các nhu cầu cụ thể của khách hàng

Dữ liệu kỹ thuật

Kích thước: L: 8475 mm - W: 2290 mm - H: 2210 mm
Kết nối nguồn:400 V 63 A (2x 32A), 5 cực

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
5. Dây chuyền sản xuất gạch tuynel công nghệ bán khô từ đất đồi
6. Dây chuyền sản xuất phân NPK
7. Dây chuyền sản xuất đá thạch anh nhân tạo
8. Dấy chuyền sản xuất bột đá

9. Dây chuyền sản xuất lò nung vôi công nghiệp kiểu lò đứng và kiểu lò ngang
Read more…

Robot dỡ xếp carton từ container xếp lên pallet

tháng 12 01, 2017 |
Robot dỡ xếp carton từ container xếp lên pallet : Thực tiễn đổi mới tiết kiệm thời gian và nhân lực


Copal C1 cấp bằng kỹ thuật tiên tiến và được cấp bằng sáng chế giải phóng các hộp đã nạp ở tốc độ cao từ một thùng chứa. Các hộp được pallet hóa đến một chiều cao 1,80 mét ở phía sau của máy. 

Container của bạn nhanh chóng được làm trống và xếp hàng với tốc độ trung bình 1.800 hộp / giờ mà không có nhân viên của bạn chịu tải vật lý. Tốc độ tối đa 3.600 hộp / giờ tùy thuộc vào kích thước và kiểu xếp chồng lên nhau của hộp. Vì vậy, Copal C1 không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn nhân lực.

Vận hành và an toàn

Người vận hành có thể vận hành máy hoàn toàn từ bên trong cabin thoải mái. Các điều khiển của tay lái được thiết kế để người vận hành có thể thực hiện tất cả các hoạt động cần thiết với cần điều khiển, được hỗ trợ bởi một hệ thống điều khiển tiên tiến PLC. C2 được đưa vào thùng chứa hoàn toàn để loại bỏ và xếp pallet các hộp. Hệ thống tự động sửa chữa cho các mức khác nhau giữa container và sàn giao nhận.


Kỹ thuật nâng tiên tiến đảm bảo rằng có thể nâng công suất lên đến 350 kg. Máy được trang bị nhiều cảm biến laser khác nhau để theo dõi tất cả các động tác do tay lái thực hiện. Copal C1 được trang bị máy ảnh để có thể xem toàn bộ hoạt động cùng một lúc.

Tự động hóa

Phần mềm đặc biệt đã được thiết kế cho Copal C1 Container Unloader & Palletizer. Ví dụ các hộp có thể được đặt trên các palet trong bất kỳ mẫu xếp chồng lên mong muốn, với một sự lựa chọn của euro hoặc pallet công nghiệp.


Không giới hạn số mẫu xếp chồng lên nhau có thể được sản xuất bởi Copal C1.
Các hoạt động lặp đi lặp lại đã được tự động hóa rộng rãi. Máy đo liên tục đo khoảng cách trong không gian có sẵn, ngăn ngừa thiệt hại. Người điều khiển có thể điều khiển hệ thống bằng cách sử dụng hai cần điều khiển khi ngồi trong một chiếc ghế thoải mái. Nhà điều hành có thể giám sát toàn bộ quá trình trên màn hình.

Tốc độ và giảm chi phí

Tùy thuộc vào kích cỡ hộp và kiểu xếp chồng, tốc độ tối đa 3.600 hộp / giờ là có thể. Vì vậy, máy tiết kiệm rất nhiều thời gian và nỗ lực thể chất. Các Container Container Unloader & Palletizer làm công việc trong ít hơn một nửa thời gian tiết kiệm 75% chi phí. C1 cũng giúp giảm rất nhiều chi phí khác.


Các ứng dụng

Bạn sử dụng các dụng cụ thích hợp như Multigripper , Frontgripper , Topgripper hoặc Pullplate , tùy thuộc vào hàng bạn đang dỡ hàng với Copal C1. Các bộ phận chân không đặt hàng nhanh chóng và an toàn trên băng tải con lăn. Các bộ phận chân không cũng có thể hoán đổi cho nhau.

Copal C1 có thể được sử dụng trong tất cả các trung tâm hậu cần , nơi có thể xếp dỡ được các thùng chứa tiêu chuẩn và có khối lượng cao. Ví dụ như kho lạnh, kho hàng và trung tâm phân phối. C1 được cung cấp tiêu chuẩn với không gian đệm cho palet trống và đầy đủ.

Tùy chọn
Copal C1 có thể được mở rộng với những thứ khác:

- Bếp kín và nóng lạnh dùng trong kho lạnh
- Buồng làm lạnh và khoang làm mát để thoải mái hơn
- Cabin áp suất cho không khí sạch
- Quét mã vạch
- Chức năng ghi nhãn
- Chức năng cân
- Topgripper , Frontgripper , Multigripper & Kéo
- Kết nối với bất kỳ hệ thống quản lý kho hiện tại
- Đo khối lượng tự động (AIBS)

Dữ liệu kỹ thuật

Kích thước: L: 8500 mm - W: 2300 mm - H: 2300 mm
Kết nối nguồn điện: 400 V 63 A (2x 32A), 5 cực
Công nghệ điều khiển PLC
Nhiệt độ môi trường:từ -10 ° C đến 40 ° C

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
5. Dây chuyền sản xuất gạch tuynel công nghệ bán khô từ đất đồi
6. Dây chuyền sản xuất phân NPK
7. Dây chuyền sản xuất đá thạch anh nhân tạo
8. Dấy chuyền sản xuất bột đá

9. Dây chuyền sản xuất lò nung vôi công nghiệp kiểu lò đứng và kiểu lò ngang
Read more…

Hiệu quả khi sử dụng robot xếp hàng hóa tự động trong nhà máy cám

tháng 10 29, 2017 |
Hiệu quả khi sử dụng robot xếp hàng hóa tự động trong các nhà máy cám tại Việt Nam
  Máy đóng bao tự động cho nhà máy
  Máy đóng bao bán tự động
 Máy tiếp bao bì vào máy đóng bao tự động
Hệ thống robot xếp bao bì lên pallet tự động

TÓM TẮT: “Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động”

Đã thiết kế, chế tạo được ở trong nước “Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động”. Hoạt động của dây chuyền được điều khiển hoàn toàn tự động. Dây chuyền thiết bị làm việc ổn định, phù hợp với thực tế và đáp ứng được yêu cầu sản xuất ở Việt nam. Năng suất tăng 15 – 20 % so với các dây chuyền cùng loại. Chất lượng sản phẩm cao và ổn định. Giảm được 60 – 70 % lao động và giá thành của dây chuyền bằng 60 – 70% dây chuyền cùng loại của nước ngoài.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi là ngành chính trong sản xuất nông nghiệp. Hiện giá trị ngành chăn nuôi mới chiếm 25 - 27% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Theo chiến lược phát triển chăn nuôi đẫ được Thủ tướng phê duyệt, mục tiêu phát triển: Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất theo phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%, trong đó đến năm 2015 đạt 38%. Mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2008 - 2010 đạt khoảng 8 - 9%; giai đoạn 2010 - 2015 đạt khoảng 6 - 7% và giai đoạn 2015 - 2020 đạt khoảng 5 - 6%.

Trong chăn nuôi thức ăn đóng vai trò rất quan trọng và chiếm 65 - 70% giá thành của sản phẩm chăn nuôi. Hiện chăn nuôi quy mô tập trung, công nghiệp đang phát triển mạnh, trong khi đó thức ăn công nghiệp mới đáp ứng được 65 - 70% nhu cầu của thị trường. Những điều nêu trên cho thấy nhu cầu thức ăn chăn nuôi, nhất là thức ăn công nghiệp là rất lớn và ngày một tăng.

Hiện các dây chuyền đồng bộ chế biến thức ăn chăn nuôi với công nghệ và thiết bị tiên tiến chủ yếu là nhập của nước ngoài. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, giai đoạn 2001 - 2005 Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã tiến hành nghiên cứu, thiết kế, chế tạo Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động với sự hỗ trợ của đề tài cấp Nhà nước mã số KC.03.03 về hệ thống điều khiển tự động cho dây chuyền. Và để có thể chế tạo được 100% máy móc, thiết bị trong dây chuyền, giai đoạn 2006 – 2009, Viện tiếp tục thực hiện đề cấp KHCN Bộ: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy ép viên thức ăn cho gia súc, gia cầm năng suất 4-5 tấn giờ“. Trên cơ sở dây chuyền quy mô 5 - 6 tấn/giờ, để đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã thiết kế, chế tạo và chuyển giao cho sản xuất các dây chuyền quy mô 3 – 4; 8 – 10; 12 – 15 và 20 - 25 tấn/giờ. Dưới đây là kết quả đạt được.

II. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu
Chế tạo được ở trong nước dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm năng suất 5 - 6 tấn/giờ, điều khiện tự động với công nghệ và thiết bị tiên tiến, làm việc ổn định, giá thành thấp, phù hợp với thực tế và đáp ứng được yêu cầu sản xuất ở Việt nam

 2. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên cần giải quyết các vấn đề sau:
- Khảo sát, lựa chọn quy trình công nghệ phù hợp;
- Thiết kế các máy chính, thiết kế lắp đặt hệ thống;
- Chế tạo các máy, lắp đặt dây chuyền thiết bị;
- Thiết kế, chế tạo hệ thống giám sát, điều khiển tự động;
- Thí nghiệm, đánh giá khả năng làm việc của các máy và toàn bộ dây chuyền;
- Ứng dụng vào sản xuất. Đánh giá hiệu quả kinh tế của dây chuyền.

3. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập và sử lý các thông tin, số liệu điều tra;
- Phương pháp tính toán, thiết kế các mẫu máy;
- Phương pháp đánh giá khả năng làm việc của các máy và toàn bộ dây chuyền.

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Lựa chon quy trình công nghệ
Dây chuyền thiết bị được thiết kế để sản xuất các chủng loại thức ăn gia súc, gia cầm theo công nghệ: Định lượng các nguyên liệu ® Nghiền nhỏ hỗn hợp ® Phối trộn ® Ép viên ® cân đóng bao sản phẩm (dưới đây gọi là Công nghệ I). Đây là công nghệ tiên tiến được hầu hết các nước công nghiệp phát triển áp dụng. Tuy nhiên theo yêu cầu của chủ đầu tư, hoàn toàn có thể đáp ứng được công nghệ: Nghiền nhỏ từng nguyên liệu ® Định lượng ® Phối trộn ® Ép viên ® cân đóng bao sản phẩm (dưới đây gọi là Công nghệ II).
  Một số ưu, nhược điểm chính của hai công nghệ trên:
* Công nghệ I
Ưu điểm:
+ Máy nghiền luân nghiền một loại hỗn hợp nguyên liệu đồng nhất nên làm việc ổn định và chỉ cần một máy nghiền là đáp ứng được yêu cầu công nghệ;
+ Các nguyên liệu dễ nghiền phụ trợ cho những nguyên liệu khó nghiền nên không khó khăn khi nghiền các nguyên liệu khó nghiền và gây bụi như bột đá, sắn lát khô, bột cá....;
+ Rất thuận tiện cho công tác tổ chức sản xuất vì không phải chờ nghiền nhỏ từng nguyên liệu một như ở Công nghệ II;
+ Ít tạo ra bụi và việc sử lý bụi dễ dàng hơn;
+ Chi phí đầu tư ít hơn vì ít chủng loại thiết bị hơn...
Nhược điểm:
+ Công việc định lượng các nguyên liệu thô khó hơn;
+ Kích thước hạt sau khi nghiền của từng loại nguyên liệu một khó điều chỉnh được theo ý muốn.
* Công nghệ II
Ưu điểm:
 + Kích thước hạt sau khi nghiền của từng loại nguyên liệu điều chỉnh được theo ý muốn với việc chọn lưới sàng thích hợp.
+ Công việc định lượng các nguyên liệu đã nghiền nhỏ dễ dàng hơn.
 Nhược điểm:
+ Đối với mỗi loại nguyên liệu, máy nghiền luân phải thay lưới sàng để có kích thước hạt thích hợp;
+ Các nguyên liệu dễ nghiền không trợ giúp cho những nguyên liệu khó nghiền nên thường phải dùng 2 loại máy nghiền mới đáp ứng được yêu cầu. Một số nguyên liệu gây bụi như bột đá, sắn lát khô ....việc sử lý bụi là khó khăn và tốn kém;
+ Không thuận tiện cho công tác tổ chức sản xuất vì phải chờ nghiền nhỏ từng nguyên liệu một và đủ chủng loại mới tiến hành định lượng và trộn được;
+ Chi phí đầu tư lớn hơn vì nhiều chủng loại thiết bị hơn...
* Lựa chon quy trình công nghệ
Xuất phát từ những ưu, nhược điểm trên và để thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất và phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt Nam, lựa chọn công nghệ: Định lượng các nguyên liệu ® Nghiền nhỏ hỗn hợp ® Phối trộn ® Ép viên ® cân đóng bao sản phẩm để thiết kế, chế tạo và chuyển giao cho sản xuất (hình 2).
2. Danh mục thiết bị trong dây chuyền




3. Hệ thống điều khiển, giám sát tự động hoạt động của dây chuyền

Toàn bộ hệ thống điều khiển tự động hoạt động của dây chuyền và quản lý quá trình sản xuất được chia thành 2 cấp
+ Trung tâm điều khiển quá trình chế biến
+ Hệ thống điều khiển các công đoạn sản xuất.
Nhờ giải pháp kỹ thuật này mà hoạt động của dây chuyền có thể điều khiển hoàn toàn tự động tại trung tâm điều khiển hay điều khiển cho từng công đoạn riêng biệt. Ngoài ra dây chuyền cũng có thể điều khiển hoàn toàn bằng tay. Như vậy tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu (Chạy thử kiểm tra, chạy từng công đoạn riêng biệt theo yêu cầu của sản xuất v.v...) mà nhà sản xuất lựa chọn giải pháp điều khiển cho thích hợp. Giải pháp điều khiển này rất phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt Nam và rất thuận lợi cho việc điều khiển dây chuyền
3.1. Trung tâm điều khiển quá trình chế biến có chức năng:
- Biết được lượng nguyên liệu có trong mỗi thùng chứa, khi thùng nào sắp hết được tự động cảnh báo và tự động cấp liệu vào thùng.
- Hiển thị quá trình làm việc của tất cả các máy, các công đoạn trên màn hình điều khiển;
- Thu thập và xử lý các thông tin của từng công đoạn, từng máy và đưa các tín hiệu để điều khiển công đoạn, máy đó;
- Định lượng tự động bằng bộ vi xử lý các nguyên liệu cần nghiền theo một tỉ lệ đã định cho từng mẻ chế biến và tự động chuyền tải nguyên liệu định lượng đến nơi cần chế biến;
- Cài đặt các chế độ làm việc cho các máy để đảm bảo chế độ công nghệ và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của người sản xuất;
- Có chức năng quản lý, lưu trữ, xử lý công việc kinh doanh một cách có hiệu quả như biết được khối lượng nguyên liệu trong từng mẻ chế biến, trong một ca, khối lượng sản phẩm, sai số thực tế của quá trình cân...
- Tự động phối hợp các công đoạn sản xuất một cách hiệu quả. Lựa chọn chế độ làm việc của các máy sao cho khoảng thời gian chuyển đổi từ mẻ nọ sang mẻ kia là ít nhất.
- Lưu các công thức chế biến cho từng loại sản phẩm dưới dạng mã hoá và được đặt tên riêng. Khi cần người điều khiển chỉ cần đưa tên của loại thức ăn đó vào là dây chuyền tự động chế biến loại thức ăn với công thức đã định. Chương trình cho phép cài đặt các công thức mới hoặc sửa đổi thành phần công thức đã được lưu trong bộ nhớ.
3.2. Hệ điều khiển các công đoạn sản xuất
- Điều khiển tự động cấp nguyên liệu vào các thùng chứa. Khi hết nguyên liệu trong thùng chứa, đèn hiệu trong trung tâm điều khiển báo, bộ vi xử lý làm việc và tự động điều khiển ống hứng liệu về phía thùng chứa tương ứng và ra lệnh cấp liệu vào thùng chứa đó.
- Tự động điều khiển quá trình định lượng các nguyên liệu cần nghiền theo một tỉ lệ đã định cho một mẻ chế biến.
Dây chuyền chế biến TAGS dù hiện đại đến đâu cũng đều chế biến theo mẻ. Nếu phối hợp hài hoà có thể bảo đảm mẻ nọ cách mẻ kia rất ngắn (khoảng 30 giây). Như vậy xem như dây chuyền hoạt động liên tục. Định lượng các nguyên liệu cần nghiền cho một mẻ chế biến là một trong những công đoạn rất quan trọng quyết định đến chất lượng thức ăn sản xuất ra sau này. Như đã đề cập ở trên, giải pháp công nghệ lựa chọn là định lượng các nguyên liệu thô sau đó nghiền hỗn hợp đã định lượng. Bảo đảm sai số quá trình định lượng các nguyên liệu thô dưới 1%.
Khối lượng của từng loại nguyên liệu và khối lượng của từng mẻ cân được hiển thị trên màn hình điều khiển.
- Điều khiển tự động hoạt động của máy nghiền và hệ thống hút lọc bụi. Khi có tín hiệu, van xả một trong hai thùng chứa liệu trước nghiền được mở. Nguyên liệu từ thùng chứa được cấp vào máy nghiền thông qua cơ cấu cấp liệu. Để giúp nguyên liệu thoát khỏi buồng nghiền dễ hơn và giảm bụi, không khí được đưa qua buồng nghiền thông qua quạt hút và cơ cấu lọc bụi.
Chế độ làm việc của máy nghiền được điều khiển tự động thông qua dòng điện định mức của động cơ điện quay rô to nghiền. Khi dòng điện thấp hơn dòng định mức, tín hiệu đưa ra điều khiển cơ cấu cấp liệu quay nhanh hơn để cấp liệu vào máy nghiền nhiều hơn, khi dòng điện cao hơn thì ngược lại.
Để tự động làm sạch hệ thống lọc bụi, định kì dòng không khí với áp suất cao được thổi vào các túi lọc.
- Hoạt động của công đoạn trộn được điều khiển tự động với một chế độ làm việc đã định sẵn: thời gian trộn, thời điểm cấp vi lượng và dầu béo vào máy trộn, thời điểm đóng, mở các van xả, van cấp liệu vào máy trộn phụ thuộc vào loại sản phẩm chế biến.
- Tự động định lượng các nguyên liệu không nghiền và các vi lượng cho một mẻ chế biến cấp vào máy trộn. Công đoạn này được thực hiện tương tự như định lượng các nguyên liệu cần nghiền. Để đảm bảo độ chính xác cao, chất béo (dầu) cũng được định lượng trước cho mối mẻ trộn.
- Cân đóng bao sản phẩm tự động là thiết bị hoạt động độc lập với bộ vi xử lý và các cơ cấu chấp hành riêng bảo đảm năng suất 5 ¸ 6 bao/phút với độ chính xác ± 0,5% (Trang bị theo yêu cầu của khách hàng).
4. Tính mới, tính sáng tạo của dây chuyền

     4.1. Về tính mới, tính sáng tạo

- Đã thiết kế, chế tạo và ứng dụng trong sản xuất thiết bị tự động cấp liệu vào hệ thống thùng chứa, hệ thống điều khiển tự động hoạt động của máy nghiền, thiết bị hút, giũ bụi tự động và thiết bị định lượng, phun dầu tự động vào máy trộn. Kết quả thử nghiệm cho thấy các thiết bị hoạt động tốt, đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Hệ thống điều khiển tự động hoạt động của máy nghiền đã nâng cao rõ rệt hiệu suất và tính ổn định của máy nghiền. Ở chế độ điều khiển thủ công, dòng điện dao động trong khoảng lớn, từ 50 đến 95A và lớn hơn, rất hay gây quá tải cho máy, dẫn đến hỏng máy và cháy động cơ, trong khi ở chế độ tự động, dòng điện chỉ dao động trong khoảng ± 5 A và máy làm việc rất ổn định. Thiết bị định lượng, phun dầu tự động vào máy trộn làm việc ổn định, đạt độ chính xác cao với sai số 0,2 – 0,3 kg/lần phun và phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt Nam.
- Đã thiết kế, chế tạo thành công hệ thống cân định lượng tự động nguyên liệu và hệ thống cân định lượng tự động phụ gia, khoáng, vi lượng cho một mẻ chế biến (cân cộng dồn). Các hệ thống trên làm việc tương đối ổn định và đáp ứng được mục tiêu đặt ra và đáp ứng được các yêu cầu của sản xuất về năng suất và độ chính xác. Sai số khi làm việc:
+ Khi cân nguyên liệu thô:    0,3 – 0,5 % với năng suất 6 – 8 tấn/giờ
+ Khi cân phụ gia, khoáng, vi lượng:  0,5 – 0,6 % với năng suất 1 – 1,5 tấn/giờ
- Thiết kế, chế tạo cân định lượng đóng bao sản phẩm thức ăn gia súc loại 5 kg/bao và loại 25 – 50 kg/bao đạt năng suất 3,5 – 4 bao/phút với sai số: 0,25 – 0,35% ở cân loại 5 kg/bao và 0,2 – 0,4%  ở cân loại 25 – 50 kg/bao.
- Đã xây dựng được Trung tâm giám sát, điều khiển tự động hoạt động của toàn bộ dây chuyền chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 – 6 tấn/giờ. Ngoài chức năng giám sát, điều khiển, Trung tâm còn có chức năng lưu giữ số liệu, cài đặt chế độ làm việc cho các máy, các công đoạn và quản lý quá trình sản xuất. Giao diện người – máy đơn giản, thuận tiện cho  người sử dụng, vận hành.
- Đã thiết kế, chế tạo hoàn chỉnh “Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động”. Dây chuyền được thiết kế theo quy trình công nghệ của châu Âu và được điều khiển hoàn toàn tự động, từ khâu cân định lượng các nguyên liệu, vi lượng, phụ gia theo tỷ lệ đã định cho một mẻ chế biến đến điều khiển tự động quá trình nghiền, hút lọc bụi, quá trình trộn, định lượng và phun dầu béo vào máy trộn, quá trình làm mát viên cũng như cân đóng bao sản phẩm. Dây chuyền thiết bị làm việc ổn định, chất lượng sản phẩm tốt, được thị trường đánh giá cao.
      4.2. Về trình độ công nghệ

- Dây chuyền thiết bị tạo ra có tính đồng bộ cao, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, được các chuyên gia tập đoàn Techna - Pháp và Công ty Nutriway đánh giá cao và đặc biết rất phù hợp với đặc thù sản xuất ở Việt Nam vì:
+ Do các nguyên liệu được cân định lượng tự động do vậy nâng cao được được độ chính xác, loại bỏ yếu tố chủ quan của con người;
+ Chế độ nghiền, hút và giũ bụi được điều khiển tự động, máy nghiền có kết cấu hợp lý, chế tạo chính xác, do vậy nâng cao đáng kể hiệu suất nghiền và chất lượng của sản phẩm nghiền;
+ Lượng cung cấp bổ xung dầu béo được định lượng tự động và phun dưới áp suất cao vào buồng trộn. Máy trộn có kết cấu hợp lý, chế tạo chính xác, do vậy độ đồng đều của sản phẩm cao;
+ Quá trình ép tạo viên và quá trình làm mát viên được giám sát tự động, do vậy chất lượng viên được nâng nên một bước đáng kể;
+ Toàn bộ quá trình sản xuất được điều khiển, quản lý bằng máy vi tính nên thuận tiện công tác tổ chức và quản lý sản xuất cũng như giám sát chất lượng và bảo mật công thức.
- Giá thành của dây chuyền thấp, chỉ bằng 60 - 70% dây chuyền cùng loại của nước ngoài và phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt Nam, là điều kiện thuận lợi để các cơ sở đầu tư, ứng dụng;
- Do tất cả được nghiên cứu, chế tạo trong nước, do vậy công tác dịch vụ kỹ thuật sau bán hàng rất chủ động. Đây là vấn đề rất được các cơ sở sản xuất quan tâm;
- Giảm đáng kể chi phí sản xuất do giảm nhân công lao động.
- Sản phẩm “Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động” đã khẳng định Việt Nam đã làm chủ hoàn toàn về công nghệ và thiết bị trong lĩnh vực chế biến thức ăn gia súc. Là cơ sở và là tiền đề vững chắc để nghiên cứu mở rộng công suất và mở rộng sang lĩnh vực khác tương tự.

5. Hiệu quả kinh tế - xã hội của dây chuyền
5.1. Kết quả ứng dụng vào sản xuất
Do dây chuyền thiết bị có tính đồng bộ cao, được điều khiển, giám sát tự động, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Chất lượng thức ăn sản xuất ra cao và ổn định, do vậy sản phẩm “Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động” đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường. Nhiều cơ sở như Công ty TNHH Vĩnh Hà, Công ty TNHH Hải Thăng doanh số bán hàng đã tăng lên gấp 2 - 3 lần so với trước và đanh tính tới việc nâng cao quy mô công suất để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nhận thấy hiệu quả kinh tế cao của dây chuyền, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư trang bị như Công ty cổ phần sản xuất và thương mại An Phát, Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Đông Á, Công ty Cổ phần sản xuất và phát triển trang trại Hà Hưng, Công ty TNHH Thành Vinh, Công ty Cổ phần phát triển công nghệ nông thôn (RTD), Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi LICOGI 13 VIGER, Công ty cổ phần TKT Việt Nam, Công ty TNHH Giang Hưng v.v.... với doanh thu trên 36 tỷ đồng. Hiện một số doanh nghiệp khác đang tiếp tục tìm hiểu để đầu tư mới hoặc đầu tư nâng cấp.
5.2. Hiệu quả kinh tế - xã hội
- Sản phẩm “Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động” sau thời gian dài thử nghiệm ứng dụng trong điều kiện sản xuất đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội to lớn, được các cơ sở ứng dụng đánh giá cao, cụ thể:
+ Năng suất tăng 15 – 20 % so với các dây chuyền cùng loại;
+ Chất lượng sản phẩm cao và ổn định. Độ đồng đều của sản phẩm sau khi trộn đạt 97,5 – 99,2 %, cao hơn hẳn yêu cầu là 90 – 95 %.
+ Sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường tăng nên rõ rệt;
+ Giảm được 60 – 70 % lao động;
+ Cải thiện đáng kể điều kiện làm việc cho công nhân
+ Giá thành của dây chuyền bằng 60 – 70% dây chuyền cùng loại của nước ngoài. Giảm được nguồn đáng kể cho các doanh nghiệp.
- Giúp các cở sở chủ động trong sản xuất, vì hầu hết các thiết bị trong dây chuyền do trong nước chế tạo;
- Góp phần đào tạo công nhân lành nghề, đử sức tiếp nhận các công nghệ và thiết bị tiên tiến;
- Thúc đẩy ngành công nghiệp cơ khí chế tạo trong nước phát triển.
Với hiệu quả kinh tế - xã hội cao mang lại, Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động đã được:
+ Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Cúp vàng tại TECHMART Việt Nam năm 2005 tại Tp. Hồ Chí Minh
+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng “Cúp vàng Nông nghiệp” năm 2007 tại Hội chợ – Triển lãm nông nghiệp quốc tế AGROVIET 2007 tổ chức tại Hà Nội.
+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng giải thưởng "Bông lúa vàng Việt nam" lần thứ nhất, năm 2012.

IV.  KẾT LUẬN

1. Đã thiết kế, chế tạo được ở trong nước “Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến thức ăn gia súc quy mô 5 - 6 tấn/giờ điều khiển tự động”. Dây chuyền được điều khiển hoàn toàn tự động, từ khâu cân định lượng các nguyên liệu, vi lượng, phụ gia theo tỷ lệ đã định cho một mẻ chế biến đến điều khiển tự động quá trình nghiền, hút lọc bụi, quá trình trộn, định lượng và phun dầu béo vào máy trộn, quá trình làm mát viên cũng như cân đóng bao sản phẩm.
2. Kết quả ứng dụng trong sản xuất cho thấy dây chuyền thiết bị làm việc ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao:
- Năng suất tăng 15 – 20 % so với các dây chuyền cùng loại;
- Chất lượng sản phẩm cao và ổn định;
- Giảm được 60 – 70 % lao động;
- Giá thành của dây chuyền bằng 60 – 70% dây chuyền cùng loại của nước ngoài.

Liên hệ được tư vấn : 0912 628 539

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
5. Dây chuyền sản xuất gạch tuynel công nghệ bán khô từ đất đồi
6. Dây chuyền sản xuất phân NPK
7. Dây chuyền sản xuất đá thạch anh nhân tạo
8. Dấy chuyền sản xuất bột đá

9. Dây chuyền sản xuất lò nung vôi công nghiệp kiểu lò đứng và kiểu lò ngang
Read more…

Đổi mới công nghệ doanh nghiệp: Song hành lợi ích và rào cản

tháng 10 08, 2017 |
Đổi mới công nghệ là một trong những biện pháp hàng đầu giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, hiệu quả, khả năng cạnh tranh

Nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm được nâng lên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tạo được vị thế bền vững trên thị trường. Không ít doanh nghiệp đã gặt hái thành công thông qua việc đổi mới công nghệ, song, vẫn còn những rào cản mà doanh nghiệp không dễ vượt qua.
Thành công nhờ công nghệ
Trong chiến lược vươn đến mục tiêu 3 tỷ USD vào năm 2017, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) tập trung ưu tiên hàng đầu là cải tiến công nghệ. Vinamilk liên tiếp đưa vào hoạt động hai nhà máy sữa với những trang thiết bị công nghệ hiện đại. Một ca sản xuất của nhà máy mới chỉ cần từ 80 - 100 nhân công, giảm khoảng 70% số lao động so với trước đó, giúp giảm chi phí nhân công, hạ giá thành sản phẩm.
Nhờ đầu tư cho công nghệ, mới đây, Vinamilk đã được Cục Phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ cấp số đăng ký để xuất khẩu hàng vào Mỹ - một thị trường đầy tiềm năng, nhưng đòi hỏi yêu cầu rất cao về chất lượng và an toàn thực phẩm.
Với Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang, nhờ xây dựng quy trình chuẩn từ thực hiện cánh đồng mẫu lớn với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt đã đạt sản lượng gạo lớn, ổn định, có chất lượng đồng đều và thâm nhập được thị trường khó tính như Nhật Bản.
Tương tự, với việc đổi mới toàn bộ dây chuyền sản xuất, Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh (Quảng Ninh) đã tạo tạo ra nhiều sản phẩm gốm mỏng có chất lượng và thẩm mỹ cao được đối tác nước ngoài đánh giá cao.
Trên 60% sản phẩm gốm được áp dụng công nghệ tiên tiến và nhiều đối tác nước ngoài yêu thích bởi có độ mỏng hơn từ 50 - 70% so với sản phẩm gốm truyền thống. Công nghệ lò đốt bằng gas không gây ô nhiễm môi trường. Quá trình vận hành và hoạt động của hệ thống hoàn toàn tự động.
Công ty Xi măng Vicem Hoàng Thạch cũng là một điển hình trong việc tập trung đổi mới công nghệ khi nghiên cứu, áp dụng thành công kỹ thuật giảm tiêu hao năng lượng nhiên liệu, nhờ đó lò 3 của nhà máy chạy ổn định và vượt công suất thiết kế với 336 ngày, đạt kỷ lục thế giới; chi phí cho tiêu thụ sản phẩm chỉ có 70.000 đồng/tấn xi măng, trong khi đơn vị khác là 150.000 - 200.000 đồng/tấn.
Tích cực đổi mới công nghệ, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại là bí quyết dẫn Công ty Nhựa Thiếu niên tiền phong đoạt Giải vàng chất lượng quốc gia. Từ năm 2008 đến nay, công ty đã thực hiện chiến lược đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, tăng cường năng lực sản xuất.
Chậm đổi mới
Đầu tư cho công nghệ rõ ràng đã mang lại nhiều lợi ích, nhưng trên thực tế, đổi mới công nghệ không phải là điều dễ dàng với nhiều doanh nghiệp.
Nghị quyết số 20/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã đặt mục tiêu tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị giai đoạn 2011 - 2015 đạt 10 - 15% và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 20%.
Hiện nay, ở Việt Nam, trình độ công nghệ tiên tiến chủ yếu thuộc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khối doanh nghiệp trong nước có trình độ công nghệ lạc hậu khá cao (chiếm 8,1% số doanh nghiệp được khảo sát so với con số 1,85% ở khối doanh nghiệp nước ngoài). Thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mới chỉ dành khoảng 0,4% doanh thu hàng năm cho công tác đổi mới công nghệ trong khi tại Hàn Quốc là 10%.
Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, có đến hơn 80% máy móc sử dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ được sản xuất cách đây 30 năm. Việc sử dụng máy móc, công nghệ lạc hậu như hiện nay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, nhất là trong bối cảnh hội nhập như hiện nay.
Một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp chậm đổi mới công nghệ là nguồn lực tài chính còn hạn chế. Hiện 96% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong số đó, các doanh nghiệp sản xuất trực tiếp chỉ chiếm tỷ lệ thấp. Do quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính hạn hẹp nên năng lực đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất hạn chế.
Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước do vẫn được bao cấp để phát triển sản xuất - kinh doanh nên ít quan tâm đến phát triển năng lực công nghệ lâu dài. Bên cạnh đó, các chính sách về hỗ trợ cải tiến, đổi mới công nghệ chưa thực sự hấp dẫn, chưa có đủ cơ sở pháp lý để thúc đẩy và thu hút doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ.
Nhiều doanh nghiệp cho rằng, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ rất thiết thực, song, doanh nghiệp khó tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, lĩnh vực được hỗ trợ còn bó hẹp, điều kiện hỗ trợ khắt khe và một số chủ trương của Nhà nước cũng vướng mắc khi triển khai vào thực tế.
Ông Trần Xuân Hạnh, Phó Giám đốc công ty Navetco cho biết, việc đổi mới công nghệ phục vụ sản xuất hoàn toàn là chủ động bằng nội lực của doanh nghiệp chứ chưa nhận được sự hỗ trợ kinh phí của Nhà nước. Với cơ chế quản lý tài chính theo quy trình xét duyệt cứng nhắc và thủ tục rườm rà như hiện tại khiến doanh nghiệp rất ngại.
Về phía Nhà nước, các chính sách liên quan đến thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ đến nay cơ bản mới tác động theo hướng khuyến khích mà chưa có những yêu cầu hoặc chế tài buộc doanh nghiệp phải dành nguồn lực nghiên cứu, đổi mới công nghệ.
Trong khi đó, thị trường khoa học và công nghệ ở nước ta còn chưa phát triển đúng với tiềm năng. Nguồn cung công nghệ trong nước còn nghèo nàn; môi trường pháp lý để thị trường công nghệ vận hành còn chưa đồng bộ, cơ chế thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn yếu kém. Các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp.
Thời gian tới, cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ để tạo hành lang thông thoáng, thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân và đặc biệt là doanh nghiệp có thể thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ kịp thời, đáp ứng được các yêu cầu và nhu cầu của hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Đồng thời, bổ sung những quy định có tính chất bắt buộc để các doanh nghiệp nhà nước dành tỷ lệ phù hợp từ lợi nhuận chịu thuế cho các hoạt động khoa học và công nghệ thông qua việc thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Hơn nữa, trao thêm quyền tự chủ để các doanh nghiệp có thể sử dụng được nguồn kinh phí trích lập này một cách hiệu quả và minh bạch nhất.
Để chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ phát huy hiệu quả và khoa học - công nghệ thực sự trở thành động lực cho phát triển, một số ý kiến cho rằng, điều quan trọng chính là phải xóa bỏ cơ chế xin - cho, đổi mới quy trình xét duyệt, tuyển chọn và ban hành các cơ chế tài chính linh hoạt trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng.
Từ đó, huy động được nguồn lực các cấp, các ngành và thu hút nguồn nhân lực rộng rãi trên mọi lĩnh vực cùng tham gia hoạt động nghiên cứu, ứng dụng; thiết lập tốt cơ chế liên kết giữa ba nhà: Nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, góp phần gắn kết nghiên cứu với thực tế sản xuất, đời sống.
Ông Cao Tiến Vị, Tổng giám đốc Công ty giấy Sài Gòn kiến nghị, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới công nghệ, Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi về lãi suất, phương án tiếp cận vốn.
Song, theo nhiều chuyên gia, các doanh nghiệp nên tìm kiếm sự đầu tư công nghệ từ các quỹ đầu tư. Doanh nghiệp sẽ có lợi thế lớn khi được các quỹ đầu tư tham gia, vì tiềm lực tài chính và uy tín của quỹ tạo ra độ tin cậy cần thiết, để những nhà đầu tư nhỏ lẻ sẵn sàng bỏ vốn vào doanh nghiệp.
Đồng thời, với kỹ năng quản trị, nhất là quản lý tài chính, các quỹ đầu tư hoàn toàn có thể tìm được một nhà tư vấn, một nhà quản trị giỏi, lựa chọn đúng công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung
9. Dây chuyền sản xuất lò nung vôi công nghiệp kiểu lò đứng và kiểu lò ngang

Read more…

Doanh nghiệp với vấn đề đổi mới công nghệ

tháng 10 08, 2017 |
Trong môi trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, hiện nay, công nghệ được xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và bền vững. Thực tế này đang đặt ra cho chúng ta (cả ở cấp độ vĩ mô và vi mô) những yêu cầu bức thiết về đổi mới công nghệ, về sự tồn tại và phát triển của bản thân mỗi doanh nghiệp và cả quốc gia.

Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đã, đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn.
Đổi mới công nghệ có thể chỉ giải quyết bài toán tối ưu về các thông số của quá trình sản xuất như: Năng suất, chất lượng, hiệu quả… hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. Đổi mới công nghệ cũng có thể trên cơ sở đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới chưa có trên thị trường hoặc là thông qua việc chuyển giao công nghệ…
Như chúng ta đã biết, công nghệ là một sản phẩm của con người và nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm. Tức là nó được sinh ra, phát triển và cuối cùng là suy vong. Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu không có những hoạt động nhằm đổi mới công nghệ thì chắc chắn hệ thống công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị… sẽ trở nên lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bị đe doạ. Do đó, đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển. Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn xuất phát từ các lợi ích khác nhau mà đổi mới công nghệ đem laị cho doanh nghiệp cũng như cho toàn xã hội nói chung.
Đổi mới công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấu đến môi trường. Đặc biệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm được nâng lên rõ rệt.
Như vậy, đổi mới công nghệ thành công thực sự có ý nghĩa khi và chỉ khi nó được thị trường, xã hội chấp nhận. Xã hội chính là nơi tiếp nhận thành tựu của đổi mới công nghệ, nhưng đồng thời cũng là nơi cung cấp nguồn lực cho quá trình đổi mới công nghệ thành công. Mọi đổi mới công nghệ đều bắt nguồn từ những nhu cầu xã hội hoặc phục vụ nhu cầu nào đó của xã hội. Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ là một quá trình sáng tạo mà quá trình đó thường xuất phát từ các cá nhân không hài lòng với thực tại. Chính vì thế, các nhà nghiên cứu, chế tạo thiết bị, công nghệ cần phải xuất phát từ nhu cầu thực sự của xã hội để cải tiến, sản xuất ra những thiết bị, công nghệ phục vụ thiết thực sản xuất. Giải pháp tốt nhất trong vấn đề này là thông qua việc khảo sát, điều tra nhu cầu của người sản xuất hoặc thông qua “Chợ công nghệ và thiết bị”. Đây là cầu nối hiệu quả nhất để nhà nghiên cứu và người sản xuất có nhu cầu sẽ trực tiếp trao đổi nhằm đưa những thiết bị, công nghệ phù hợp, cải tiến kỹ thuật trong quá trình sản xuất và để quá trình thương mại hóa hiệu quả nhất.
Các yêu cầu đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp
Đổi mới công nghệ sẽ mang lại hiệu quả rất thiết thực, nhất là trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì công nghệ được xem là vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ nhất. Đổi mới công nghệ sẽ tạo ra những sản phẩm tiên tiến hơn, chất lượng sản phẩm sẽ tốt hơn, năng suất cao hơn, chi phí sản xuất giảm, hạ được giá thành sản phẩm, ưu thế cạnh tranh trên thị trường ngày càng tốt hơn.
Để thực hiện đổi mới công nghệ đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp lưu ý những vấn đề sau:
Có định hướng phát triển
Đây là yêu cầu rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì nếu không có định hướng phát triển rõ ràng, chỉ tập trung vào việc khai thác các cơ hội trước mắt hoặc duy trì quy mô hiện có về thiết bị, công nghệ, lao động… thì doanh nghiệp tự mình giảm thị phần của mình trên thương trường và từng bước bị đẩy lùi về phía sau. Do đó, những doanh nghiệp đổi mới công nghệ nhanh và đổi mới có hiệu quả là những doanh nghiệp luôn có mục tiêu mở rộng, phát triển và chủ động lập kế hoạch phát triển lâu dài.
Cập nhật thông tin công nghệ
Cập nhật thông tin về công nghệ là rất cần thiết đối với doanh nghiệp, nhất là cập nhật những thành tựu mới về công nghệ và sản xuất kinh doanh liên quan đến ngành mình và các ngành có liên quan, những thông tin đầy đủ về thị trường, chính thức hóa công việc này thông qua bộ phận marketing của doanh nghiệp.
Có chính sách kích thích tính sáng tạo trong doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất sẽ xuất hiện nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật… để đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí nguyên, nhiên liệu, hạ giá thành sản phẩm. Do đó, các doanh nghiệp, nhà sản xuất cần tạo môi trường thuận lợi để kích thích sự sáng tạo, suy nghĩ, thử nghiệm, thảo luận và phát triển các ý tưởng của các thành viên trong doanh nghiệp.
Đầu tư đổi mới công nghệ
Sự thành công của đổi mới công nghệ được quyết định bởi chất lượng các hoạt động, sự kết hợp giữa các cá nhân và các bộ phận với nhau thật sự chặt chẽ và phát huy hiệu quả cao. Do đó, đầu tư cho đổi mới công nghệ đòi hỏi nguồn lực lớn (cả nhân lực lẫn tài lực). Sự quan tâm tích cực đến việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức khác nhau sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc khuyến khích khả năng sáng tạo của các cá nhân trong doanh nghiệp và thu hút trí tuệ, kinh nghiệm, … của các chuyên gia giỏi, các nhân viên có kinh nghiệm từ bên ngoài để thực hiện kế hoạch đổi mới công nghệ của doanh nghiệp; đồng thời nó là cơ sở để có thể tiếp nhận công nghệ chuyển giao từ bên ngoài.
Đào tạo nguồn nhân lực
Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển dựa vào nền tảng phát triển công nghệ, cần phải tạo ra nguồn nhân lực được đào tạo chuẩn mực về công nghệ, phù hợp với nhu cầu thực tế sản xuất và quan trọng là phải tạo cơ hội và môi trường thích hợp nhằm phát huy tối đa năng lực sáng tạo của lực lượng lao động theo đúng lĩnh vực chuyên môn được đào tạo. Như vậy, việc tạo nguồn nhân lực công nghệ là một trong những khâu quan trọng nhằm củng cố, phát triển năng lực công nghệ để thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp đề ra trong từng giai đoạn phát triển. Để có nguồn nhân lực công nghệ phù hợp, doanh nghiệp phải có sự đánh giá và trên cơ sở quy hoạch, xác định kế hoạch để xây dựng nguồn nhân lực một cách khoa học và có hệ thống./.
Quý khách tham khảo thiết bị Công ty Cung cấp:
1. Robot xếp gạch ( Robot gắp gạch ) tự động lê goong thay thế lao động 
2. Robot xếp hàng (robot xếp bao bì) (robot gắp hàng) lên pallet tự động
3. Đầu đùn ép gạch công nghệ bán khô
4. Bông treo trần lò nung tuynel cách nhiệt giảm trọng lượng lò nung

9. Dây chuyền sản xuất lò nung vôi công nghiệp kiểu lò đứng và kiểu lò ngang
Read more…

Robot gắp hàng hóa

Robot gắp hàng hóa

Robot gắp hàng hóa

Máy xếp hàng tự động

Máy đóng bao tự động

Máy đóng bao tự động

Google+ Badge

Robot gắp hàng hóa

Máy đóng bao xếp hàng tự động

Máy xếp bao lên pallet


Công Ty TNHH Thiết Bị Máy Công Nghiệp và Xây Dựng Tân Phú

Văn Phòng Hà Nội:P 601, tầng 6, Sky City Tower A, 88 Láng Hạ, P. Láng Hạ, Q. Đống Đa, TP. Hà Nội

Văn Phòng HCM:

Tư Vấn : 0912.628.539


Email: robottanphu@gmail.com
Công nghệ bán khô sản xuất gạch tuynel thiết bị lò gạch robot gắp gạch robot bốc hàng robot xếp hàng đóng thùng! Convert by Công nghệ bán khô sản xuất gạch tuynel thiết bị lò gạch robot gắp gạch robot bốc hàng robot xếp hàng đóng thùng! Template Convert.